Doanh nghiệp có hành vi trốn đóng BHXH, BHYT sẽ bị khởi tố có đúng không?
Sau hàng loạt vụ gian lận về bảo hiểm xã hội, đặc biệt vụ án Công ty TNHH MTV Vinashin Lai Châu trốn đóng BHXH, BHYT cho người lao động trong một thời gian dài với số tiền lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động. Giám đốc công ty đã bị khởi tố và xét xử về tội trốn đóng BHXH, BHYT. Thì ngày 30/12/2025 Bộ công an vừa ban hành hướng dẫn chi tiết về hồ sơ kiến nghị khởi tố các hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN, nhằm siết xử lý hình sự các vi phạm này. Cùng MCC tìm hiểu chi tiết qua bài viết sau nhé!
Doanh nghiệp có hành vi trốn đóng BHXH, BHYT sẽ bị khởi tố có đúng không?
Đúng vậy, doanh nghiệp có hành vi trốn đóng BHXH, BHYT cho người lao động có thể bị khởi tố hình sự theo quy định của Bộ Công An vừa ban hành. Hành vi này được coi là vi phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của người lao động, ảnh hưởng đến an sinh xã hội và gây bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh. Việc khởi tố hình sự đối với hành vi này nhằm răn đe, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, đảm bảo quyền lợi của người lao động và trật tự xã hội.
Sự rõ ràng trong cách thức thu thập và trình bày bằng chứng sẽ là yếu tố then chốt giúp các cơ quan có thẩm quyền dễ dàng hơn trong việc xác định tội danh và áp dụng các biện pháp xử lý hình sự phù hợp theo Điều 214, 215, 216 của Bộ luật Hình sự.
Cơ sở pháp lý cho việc khởi tố doanh nghiệp trốn đóng BHXH, BHYT
Việc khởi tố doanh nghiệp trốn đóng BHXH, BHYT không phải là một quy định mới mà đã được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các văn bản pháp luật chính điều chỉnh vấn đề này bao gồm:
Bộ luật Hình sự: Đây là văn bản pháp luật cao nhất quy định về các tội phạm và hình phạt áp dụng cho các hành vi phạm tội, trong đó có tội trốn đóng BHXH, BHYT. Cụ thể tại Điều 214, 215, 216 của Bộ luật này.
Luật Bảo hiểm xã hội: Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong việc tham gia và thực hiện BHXH.
Luật Bảo hiểm y tế: Tương tự như Luật BHXH, Luật BHYT quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan đến BHYT.
Luật Việc làm: Luật này quy định về các chính sách hỗ trợ việc làm và bảo hiểm thất nghiệp, liên quan đến việc đóng BHXH.
Các văn bản hướng dẫn thi hành: Bao gồm các Nghị định, Thông tư hướng dẫn chi tiết việc thực hiện các quy định của Luật BHXH, Luật BHYT, và Bộ luật Hình sự về trốn đóng BHXH, BHYT.
Quy định chi tiết về việc xử phạt tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN
Điều 216 của Bộ luật Hình sự quy định cụ thể về tội trốn đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Điều này thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và xử lý nghiêm các hành vi trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước và người lao động. Nội dung chính của Điều 216 bao gồm:
Phạt tiền: Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng.
Phạt cải tạo không giam giữ: Cải tạo không giam giữ đến 01 năm.
Phạt tù: Phạt tù từ 03 tháng đến 07 năm.
Hình phạt bổ sung: Ngoài các hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Các dấu hiệu nhận biết hành vi trốn đóng BHXH, BHYT có thể bị khởi tố
Không phải mọi hành vi chậm trễ đóng BHXH, BHYT đều dẫn đến việc khởi tố hình sự. Để hành vi trốn đóng bị khởi tố, cần có các dấu hiệu sau:
Trốn đóng với số tiền lớn: Số tiền trốn đóng phải đạt đến một mức nhất định theo quy định của pháp luật (ví dụ: từ 50 triệu đồng trở lên).
Trốn đóng trong thời gian dài: Hành vi trốn đóng diễn ra liên tục trong một thời gian dài, thể hiện sự cố ý không thực hiện nghĩa vụ.
Có khả năng tài chính nhưng vẫn trốn đóng: Doanh nghiệp có đủ điều kiện tài chính để đóng BHXH, BHYT nhưng vẫn cố tình không đóng hoặc đóng không đầy đủ.
Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động: Hành vi trốn đóng gây ra những hậu quả tiêu cực đến đời sống, sức khỏe của người lao động và ảnh hưởng đến an sinh xã hội.
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn tái phạm: Doanh nghiệp đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, nhưng vẫn tiếp tục vi phạm.
Hồ sơ kiến nghị khởi tố hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN
Để đảm bảo hiệu quả trong việc xử lý hình sự các hành vi gian lận và hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN, hướng dẫn của Bộ Công an đã đặt ra những yêu cầu rất chi tiết về hồ sơ kiến nghị khởi tố.
Hồ sơ kiến nghị khởi tố hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN
Theo hướng dẫn của Bộ Công an, một bộ hồ sơ kiến nghị khởi tố hoàn chỉnh phải bao gồm các giấy tờ bắt buộc và tuân thủ các quy định về định dạng pháp lý.
Đầu tiên, hồ sơ phải có văn bản kiến nghị khởi tố vụ án của cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh hoặc thành phố, do Giám đốc ký. Đây là văn bản chính thức, thể hiện ý chí và quan điểm của cơ quan Bảo hiểm xã hội trong việc đề nghị cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khởi tố. Văn bản này cần trình bày rõ ràng, súc tích về hành vi vi phạm, các điều khoản pháp luật bị vi phạm và lý do kiến nghị khởi tố.
Kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố là các đơn thư, tài liệu của cá nhân, tổ chức phản ánh, khiếu nại, tố cáo về hành vi gian lận hoặc hành vi trốn đóng BHXH. Những tài liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin ban đầu và là cơ sở để cơ quan Bảo hiểm xã hội tiến hành kiểm tra, xác minh.
Ngoài ra, không thể thiếu các biên bản, kết luận kiểm tra, xác minh của cơ quan Bảo hiểm xã hội về các hành vi vi phạm. Đây là những bằng chứng trực tiếp, được thu thập qua quá trình kiểm tra, thanh tra, ghi nhận các sai phạm một cách chính xác và khách quan. Những tài liệu này là căn cứ pháp lý cốt lõi, chứng minh mức độ và tính chất của hành vi gian lận hoặc trốn đóng.
Lưu ý: các giấy tờ trong hồ sơ có thể là bản chính, bản sao y hoặc bản chuyển đổi từ dữ liệu điện tử. Đối với bản sao y hoặc tài liệu số hóa, cần có con dấu treo, giáp lai của Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố để xác nhận nguồn gốc và tính hợp lệ.
Hồ sơ gian lận trốn đóng bảo hiểm xã hội theo Điều 214
Mỗi loại tội danh về bảo hiểm xã hội đều có những yêu cầu đặc thù về thành phần hồ sơ, phản ánh bản chất khác nhau của hành vi vi phạm. Điều này đòi hỏi cơ quan Bảo hiểm xã hội phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chính xác.
Đối với tội Gian lận BHXH, BHTN theo Điều 214 Bộ luật Hình sự, hồ sơ cần tập trung vào các tài liệu chứng minh hành vi gian lận nhằm chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đồng trở lên. Các giấy tờ quan trọng bao gồm hồ sơ giải quyết, chi trả các chế độ như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, trợ cấp thất nghiệp…
Ví dụ điển hình là giấy ra viện giả, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ BHXH giả mạo, giấy chứng sinh khống, giấy khai sinh giả, chứng tử, khai tử không đúng sự thật, hay biên bản giám định khả năng lao động bị làm sai lệch.
Hồ sơ Gian lận trốn đóng bảo hiểm y tế theo Điều 215
Đối với tội Gian lận BHYT theo Điều 215, yêu cầu hồ sơ cũng tương tự về ngưỡng chiếm đoạt/gây thiệt hại tiền bảo hiểm nhưng tập trung vào các hành vi liên quan đến y tế. Hồ sơ cần có các tài liệu thể hiện hành vi gian lận, chiếm đoạt tiền BHYT từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đồng trở lên.
Các giấy tờ, chứng cứ cụ thể bao gồm hồ sơ bệnh án khống, giả mạo, đơn thuốc khống, hóa đơn thuốc thanh toán kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế. Ngoài ra, các chi phí phát sinh khác như tiền công khám, vận chuyển người bệnh cũng có thể bị làm giả. Thậm chí, việc sử dụng thẻ BHYT giả hoặc dùng thẻ của người khác để trục lợi cũng là bằng chứng quan trọng.
Hồ sơ trốn đóng BHXH- BHTN- BHYT theo Điều 216
Đáng chú ý, đối với tội Trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động theo Điều 216, yêu cầu hồ sơ có phần khác biệt.
Hồ sơ bắt buộc phải có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện từ ngày 1/1/2018 trở đi.
Kèm theo các tài liệu như quyết định thanh kiểm tra, biên bản làm việc, tài liệu xác minh sự việc, biên bản vi phạm hành chính, kết luận thanh kiểm tra.
Tài liệu chứng minh hành vi trốn đóng với thời gian từ đủ 6 tháng trở lên và thỏa mãn một trong hai dấu hiệu: số tiền trốn đóng từ 50 triệu đồng trở lên hoặc trốn đóng từ 10 người lao động trở lên (tính từ 1/1/2018 trở đi).
Để chứng minh điều này, danh sách người lao động tham gia hoặc bắt buộc tham gia BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cùng các biên bản làm việc về đóng bảo hiểm cho người lao động là vô cùng quan trọng.
Thẩm quyền xử lý hành vi trốn đóng BHXH
Theo hướng dẫn của Bộ Công an, Giám đốc cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, thành phố sẽ là người ký văn bản kiến nghị khởi tố và gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra cùng cấp. Cụ thể, đây là Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) thuộc Bộ Công an hoặc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (PC03) thuộc Công an các địa phương.
Hồ sơ khi gửi đi phải kèm theo các tài liệu là bản photo có đóng dấu treo, giáp lai của Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố hoặc tài liệu số hóa theo quy định để thể hiện nguồn gốc và tính xác thực của tài liệu.
Trong quá trình điều tra, nếu cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị cung cấp thêm hồ sơ, tài liệu, cơ quan Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm phối hợp, cung cấp đầy đủ và kịp thời.



